Hàng “Made in Vietnam” phải có tỷ lệ nội địa hóa 30%

Cơ hội giao thương - Theo dự thảo quy định cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam được Bộ Công Thương đưa ra, một hàng hóa chỉ được xác định là "made in Vietnam" khi đồng thời thỏa mãn điều kiện: Công đoạn cuối cùng không phải gia công đơn giản và hàm lượng giá trị gia tăng nội địa tối thiểu là 30%.

Ngày 29/6/2018, Bộ Công Thương đã có Tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép Bộ được nghiên cứu, xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật về việc như thế nào thì một sản phẩm, hàng hóa được coi là “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam”. Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, sau 1 năm trao đổi với các bộ, ngành hữu quan về cơ sở pháp lý cũng như hình thức văn bản, Bộ Công Thương đã hoàn thành dự thảo ban đầu dưới hình thức Thông tư.

Đạt hàm lượng giá trị gia tăng 30% là hàng hóa Việt Nam

Theo tài liệu hỏi đáp về Dự thảo quy định cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam được Bộ Công Thương phát hành nêu rõ, Thông tư này được áp dụng cho hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam. Vì vậy, về nguyên tắc, Thông tư sẽ áp dụng cho cả hàng nhập khẩu vào Việt Nam. Nếu hàng nhập khẩu vào Việt Nam đã có nhãn mác thể hiện xuất xứ không phải xuất xứ Việt Nam thì khi lưu thông trên thị trường, việc ghi nước xuất xứ sẽ được thực hiện theo Nghị định 43/2017/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Thông tư của Bộ Công Thương không điều chỉnh các trường hợp này.

Tuy nhiên, nếu hàng nhập khẩu gắn sẵn nhãn mác thể hiện đó là “hàng Việt Nam” thì Thông tư được áp dụng. Cơ quan chức năng có quyền yêu cầu người nhập khẩu chứng minh đó là hàng Việt Nam trước khi cho phép hàng hóa được thông quan.

Hàng hóa được phép thể hiện là hàng Việt Nam trong 2 trường hợp: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Dự thảo. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa được quy định tại Điều 9 của Dự thảo.

Đáng chú ý, trong Hiệp định Thương mại tự do hàng hóa ASEAN (ATIGA), hàm lượng giá trị gia tăng phải đạt 40% mới được coi là đáp ứng xuất xứ hàng hóa; nhưng tại thông tư này, chỉ cần hàm lượng 30% sẽ được coi là hàng hóa Việt Nam. Nguyên nhân là trong ATIGA và các hiệp định thương mại tự do khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi là hàm lượng giá trị khu vực (RVC), tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên. Ví dụ, một sản phẩm có 20% giá trị của Thái Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp chứng nhận xuất xứ mẫu D để được hưởng ưu đãi thuế quan. Nhưng với thông tư này, tỷ lệ giá trị giá tăng 30% là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Trả lời câu hỏi về việc cây xoài lấy giống từ Thái Lan đem về Việt Nam trồng thì quả xoài có được coi là sản phẩm của Việt Nam không? Nhóm tác giá soạn thảo dự thảo Thông tư quy định cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam cho biết, khoản 1 Điều 8 Dự thảo Thông tư quy định: “Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam được coi là hàng hóa có xuất xứ thuần túy”. Vì vậy, cây xoài mặc dù lấy giống từ Thái Lan nhưng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam thì quả xoài được coi là sản phẩm của Việt Nam.Không làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.

Quy định không làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp

Mặc dù là một văn bản mới nhưng Dự thảo được xác định là không quy định bất cứ một thủ tục hành chính mới nào mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Trả lời câu hỏi về việc thực hiện quy định của Thông tư có làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí gì không? Nhóm tác giả soạn thảo dự thảo cho biết, Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm “đội lốt” hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Cũng theo Nhóm tác giả soạn thảo dự thảo, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa trên thị trường Việt Nam có quyền thể hiện hoặc không thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa.

Trường hợp thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa trên thị trường Việt Nam có nghĩa vụ tuân thủ Thông tư và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin do mình cung cấp.

Theo VnMedia

(Visited 4 times, 1 visits today)