Ngành dệt may – nỗ lực chuyển đổi số, xanh hóa, kiên định mục tiêu 43 tỷ USD

Cơ hội giao thương - Trong 6 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu dệt may đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2021. Những tháng cuối năm, toàn ngành đang nỗ lực chuyển đổi số, thực hiện xanh hóa, thích ứng với biến động thị trường nhằm đạt mục tiêu 43 tỷ USD xuất khẩu cả năm 2022.

Những tháng cuối năm nhiều thách thức

Tại buổi họp báo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) sáng 21/7/2022, ông Vũ Đức Giang – Chủ tịch Hiệp hội cho biết, năm 2022 là thời điểm mà các doanh nghiệp dệt may từng bước phục hồi sau 2 năm chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 toàn cầu. Trong 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2021.

Chủ tịch VITAS Vũ Đức Giang: Doanh nghiệp dệt may phải thích ứng nhanh với những sự thay đổi của thị trường 

Trong đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng may mặc, kim ngạch xuất khẩu đạt 16,94 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu vải đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,8%; xuất khẩu xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%; xuất khẩu phụ liệu dệt may đạt 734 triệu USD, tăng 22,3%; xuất khẩu vải không dệt đạt 452 triệu USD, tăng 25,5%.

Ở chiều ngược lại, tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 13,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ 2021.

Như vậy, ngành dệt may xuất siêu đạt 8,86 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, tăng 32% so với 6 tháng năm 2021. Đây là nỗ lực của các doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn.

Theo ông Vũ Đức Giang, dù thuận lợi trong nửa đầu năm, song bắt đầu sang quý 3/2022, thị trường dệt may đã có nhiều thay đổi. Cùng với việc phải đối mặt với rủi ro, thách thức trước mắt khi nguy cơ tái bùng phát bởi các biến chủng COVID-19 mới vẫn đang hiện hữu, nhiều thị trường là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)… vẫn đang áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt chống dịch, ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi cung ứng nguyên, phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm dệt may của Việt Nam.

Bên cạnh đó, lạm phát cao tại các thị trường tiêu thụ dệt may lớn của Việt Nam như Mỹ, châu ÂU… và diễn biến phức tạp của cuộc xung đột Nga – Ukraine khiến giá nguyên, nhiên phụ liệu tăng cao liên tục từ đầu năm đến nay. Cụ thể, giá bông tăng 19,1%; giá dầu thô tăng 40%; giá xăng trong nước tăng 67%; chi phí vận tải cao gấp 3 lần so với bình quân 5 năm trở lại đây… làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng khoảng từ 20 – 25%.

Ngoài ra, bất lợi về tỷ giá với các đối thủ cạnh tranh, tình trạng thiếu lao động sau đại dịch, yêu cầu truy xuất nguồn gốc bông, vải, sợi hay xanh hóa dệt may từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới cũng là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang phải đối mặt.

“Đặc biệt, việc đồng Euro mất giá đã gây ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu dệt may, bởi EU là thị trường xuất khẩu dệt may lớn thứ hai của ngành dệt may Việt Nam. Đồng Euro mất giá sẽ làm giá thành hàng hóa cao lên trong bối cảnh người dân EU đang thắt chặt chi tiêu. Nhìn chung, sức mua tại thị trường EU sẽ giảm đi, gây khó khăn cho các nước xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường EU, chứ không riêng với ngành dệt may Việt Nam” – ông Vũ Đức Giang phân tích.

Nỗ lực chuyển đổi số, thực hiện xanh hóa ngành dệt may

Để có thể đạt được mục tiêu xuất khẩu dệt may đạt 43 tỷ USD trong năm 2022, trong nửa cuối năm, xuất khẩu dệt may phải đạt từ 20 đến 21 tỷ USD.

Trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức, theo ông Vũ Đức Giang, các doanh nghiệp cần bắt kịp xu thế thị trường, đầu tư máy móc công nghệ, chuyển đổi xanh thích ứng với yêu cầu của nhãn hàng, tăng cường giải pháp xây dựng đào tạo nguồn lực thích ứng với tình hình khó khăn của thị trường, đặc biệt chú trọng tới nguồn nhân lực thiết kế cho ngành công nghiệp thời trang để từng bước tiến tới làm hàng FOB, ODM.

Doanh nghiệp cần bắt kịp xu thế thị trường, đầu tư máy móc công nghệ, chuyển đổi xanh thích ứng với các yêu cầu của nhãn hàng 

Cùng với đó, doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường, điển hình như yêu cầu về sản phẩm may mặc tái chế vào thị trường EU; mở rộng tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới để không quá phụ thuộc vào một vài thị trường; thay đổi thiết bị công nghệ nhằm thích ứng được yêu cầu từ các nước nhập khẩu.

Trên thực tế, các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam đã đưa ra sách lược phải giữ ổn định thị trường, người lao động, khách hàng, đồng thời tăng cường kiểm soát chi phí để giảm tối đa chi phí tác động lên doanh nghiệp.

Ông Vũ Đức Giang cho biết, thời gian qua, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã và đang thực hiện tốt vai trò kết nối doanh nghiệp trong nước với nhau và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành chuỗi cung ứng; mở rộng thị trường xuất khẩu; tham gia và hoạt động tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế lớn chuyên ngành dệt may; phối hợp với các tổ chức quốc tế triển khai các chương trình về năng lượng tái tạo, tiết kiệm nguồn nước, thiết kế, bán hàng, xây dựng thương hiệu, quản lý lao động…

Đặc biệt, VITAS luôn phát huy vai trò là cầu nối hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước với khối doanh nghiệp dệt may, nâng cao nhận thức phát triển ngành theo hướng xanh – sạch – bền vững.

VITAS sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc phản ánh, đề xuất kiến nghị, kêu gọi sự hỗ trợ từ phía Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương về vấn đề phòng dịch và sản xuất, thông tin thị trường, chi phí cảng biển, chi phí công đoàn, cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đào tạo phát triển nguồn nhân lực…- Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam Vũ Đức Giang nhấn mạnh.

Theo VietQ.vn

Ngành dệt may- Nỗ lực chuyển đổi số, xanh hóa, hướng tới mục tiêu 43 tỷ USD (vietq.vn)

(Visited 16 times, 1 visits today)