Các FTA góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%

Cơ hội giao thương - Theo Bộ Công Thương, cùng với tham gia WTO từ năm 2007, việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%.

Ngày 23/9/2020, tại Nhà Quốc hội, Đoàn giám sát của Ủyban Thường vụ Quốc hội đã có buổi làm việc với Chính phủ về việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên.  

Việt Nam đã có 13 FTA có hiệu lực

Theo thống kê của Tổ chức Liên hiệp quốc về Kinh tế và các vấn đề xã hội cho khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (UNSCAP), khu vực Châu Á – Thái Bình dương dẫn đầu xu thế FTA với 262 FTAs được ký kết, thông báo tới WTO và với sự tham gia của nhiều nền kinh tế lớn trong khu vực như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản …

Đến nay, Việt Nam đã có 13 FTA có hiệu lực và hiện đang đàm phán 03 FTA. Trong số 13 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA).

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã thay mặt Chính phủ báo cáo về tình hình thực hiện các Hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên. 

Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, việc đàm phán, ký kết, gia nhập các FTA của Việt Nam cơ bản đã tuân thủ các quy định của pháp luật về điều ước quốc tế: Pháp lệnh về ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế năm 1998; Chương II, III của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005; Chương II Luật Điều ước quốc tế 2016.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh thay mặt Chính phủ báo cáo về tình hình thực hiện các Hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhận định, việc tham gia các hiệp định FTA đã tạo thêm động lực và mang lại nhiều tác động tích cực cho kinh tế Việt Nam. Theo đó, thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa; thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA …. Cùng với tham gia WTO từ năm 2007, việc thực thi các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%.

CPTPP và EVFTA mang lại cơ hội và thách thức cho Việt Nam

Năm 2019, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu giảm tốc do ảnh hưởng của căng thẳng thương mại toàn cầu và cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn, Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất nhập khẩu ở mức cao, tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu năm 2019 vượt mốc 500 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2018; kim ngạch nhập khẩu 2019 đạt 253,5 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2018.

Trong 08 tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng: tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,23 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3% và nhập khẩu đạt 161,87 tỷ USD, giảm 2,4%. 

 

“Kết quả đạt được này là minh chứng cho chủ trưởng đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), trong đó có việc tham gia các FTA và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực hướng tới đẩy mạnh HNKTQT theo hướng hiệu lực và hiệu quả”, người đứng đầu Bộ Công Thương chia sẻ.

Tuy nhiên, HNKTQT nói chung và việc tham gia các Hiệp định FTA nói riêng, đặc biệt là các hiệp định FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA không chỉ mang lại cơ hội mà kèm theo những rủi ro và thách thức. 

Chỉ ra những thách thức đối với Việt Nam khi thực hiện các FTA thế hệ mới, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, đó là thách thức về kinh tế; thách thức về hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế; thách thức trong việc thực thi các cam kết trong những lĩnh vực mới chưa có trong các FTA trước đây như lao động, công đoàn, môi trường…; thách thức về bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về những cơ hội do FTA mang lại còn hạn chế, tạo ra thách thức trong việc triển khai và nắm bắt cơ hội. 

Việc đánh giá tác động và tình hình thực hiện FTA tại thời điểm này là thực sự cần thiết với mục đích mang lại cái nhìn bao quát, xác định được cơ hội – thách thức với doanh nghiệp và nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ và giúp cho công tác thực thi trong thời gian tới được hiệu quả hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho nước ta.

Theo VnMedia

(Visited 4 times, 1 visits today)