Thị trường trái phiếu Việt Nam tăng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi

Cơ hội giao thương - Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 27%/năm trong thập kỷ vừa qua, đây là mức tăng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Đông Á.

Ngày 24/9/2009, thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức khai trương và đi vào hoạt động, theo đó tập trung toàn bộ hoạt động đấu thầu phát hành, giao dịch trái phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, nhằm đáp ứng yêu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển, góp phần hoàn thiện cấu trúc của thị trường vốn, thị trường tài chính Việt Nam.

Đến nay, sau 10 năm hoạt động, thị trường trái phiếu Chính phủ đã có sự phát triển cả về quy mô và tính thanh khoản, đóng vai trò then chốt để phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu. Hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ đã được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế từ khâu công bố kế hoạch phát hành, sản phẩm hàng hóa, phương thức và quy trình phát hành đến đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch trên thị trường thứ cấp.

Khối lượng giao dịch bình quân phiên trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 9.000 tỷ đồng/phiên tăng 24 lần so với năm 2009
Khối lượng giao dịch bình quân phiên trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 9.000 tỷ đồng/phiên tăng 24 lần so với năm 2009
Theo số liệu của Bộ Tài Chính, quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ đến hết tháng 11/2019 bằng 25,1%GDP năm 2019 gấp 12 lần so với năm 2009. Khối lượng giao dịch bình quân phiên trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 9.000 tỷ đồng/phiên tăng 24 lần so với năm 2009 bằng 0,9% dư nợ trái phiếu niêm yết. Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 27%/năm trong thập kỷ vừa qua là mức tăng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Đông Á.

Cũng theo Bộ Tài chính, trong 10 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các đơn vị chức năng của Bộ Tài chính, các thành viên của thị trường trái phiếu, cùng với sự phối hợp của các Bộ, ngành, sự hỗ trợ có hiệu quả của các tổ chức quốc tế, khung pháp lý cho hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam liên tục được đổi mới, hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường theo thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao khả năng huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) và là sản phẩm tài chính an toàn, thanh khoản cho các nhà đầu tư.

Trong 10 năm qua, hai thế hệ chính sách hướng dẫn Luật Quản lý nợ công và Luật Ngân sách Nhà nước đã được ban hành tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động của thị trường sơ cấp, thứ cấp trái phiếu Chính phủ (TPCP) cũng như hoạt động tái cơ cấu danh mục nợ TPCP theo hướng bền vững.

Trong giai đoạn 2009 – 2019, kênh phát hành TPCP đã huy động được 1,96 triệu tỷ đồng cho NSNN, bình quân đạt khoảng 175 nghìn tỷ đồng/năm, kênh trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh huy động được 385.151 tỷ đồng, bình quân khoảng 35.014 tỷ đồng/năm; kênh trái phiếu chính quyền địa phương huy động được 36.924 tỷ đồng, bình quân khoảng 4.615 tỷ đồng/năm. Trong những năm gần đây, kênh huy động vốn TPCP chiếm 75% – 80% trong năm.

Đồng thời, công tác phát hành TPCP đã gắn kết với việc tái cơ cấu nợ Chính phủ, thông qua việc tập trung phát hành các kỳ hạn dài khi thị trường thuận lợi, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Theo đó, kỳ hạn phát hành bình quân TPCP đã được kéo dài qua từng năm, đạt 13,6 năm vào cuối tháng 11/2019, cao hơn 9 -10 năm so với giai đoạn 2009 – 2014, trong khi lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,58%/năm, thấp hơn 6,4% – 7,6%/năm so với giai đoạn 2009 – 2014. Việc tập trung phát hành TPCP kỳ hạn dài với chi phí huy động vốn hợp lý đã tạo điều kiện cho Chính phủ tăng vay nợ tại thị trường trong nước, giảm vay nợ nước ngoài, góp phần giảm rủi ro của danh mục nợ công.

Cùng với sự phát triển đa dạng về sản phẩm, trên thị trường TPCP ngày càng xuất hiện nhiều nhà đầu tư mới như các loại hình quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài; Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng tham gia tích cực trên thị trường TPCP. Đặc biệt trên thị trường TPCP đã có sự tham gia của nhà đầu tư 100% vốn nước ngoài.

Đến cuối tháng 11 năm 2019, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư dài hạn đạt 55% (tăng 35% so với cuối năm 2009), của các ngân hàng thương mại giảm xuống mức khoảng 45% (giảm 35% so với cuối năm 2009). Đồng thời, TPCP đã trở thành công cụ hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở, hoạt động tái cấp vốn.

Theo VnMedia

(Visited 10 times, 1 visits today)