Lạm phát tháng 1 tăng 0,49%, mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây

Cơ hội giao thương - Tổng cục Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 01 năm 2021 tăng 0,49% so với cùng kỳ năm 2020. Đây là các mức tăng thấp nhất của tháng 01 trong vòng 5 năm gần đây.

Theo Tổng cục Thống kê, tháng 01 năm 2021 là tháng giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao. Giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình tăng; Giá xăng dầu, giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2021 tăng 0,06% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước CPI giảm 0,97%, trong đó: CPI khu vực thành thị giảm 0,60%, khu vực nông thôn giảm 1,38%.

Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 01 năm 2021 tăng 0,49% so với cùng kỳ năm 2020. Đây là các mức tăng thấp nhất của tháng 01 trong vòng 5 năm gần đây.

Theo Tổng cục Thống kê, so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm hàng tăng giá và 02 nhóm hàng giảm giá.

Trong 09 nhóm hàng tăng giá, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 2,29% so với tháng trước do giá xăng dầu điều chỉnh tăng vào ngày 11/01/2021 và ngày 26/01/2021, trong đó: giá xăng E5 tăng 790 đồng/lít, giá xăng A95 tăng 800 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 670 đồng/lít so với tháng trước. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,64% so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng chuẩn bị cho Tết Nguyên đán sắp tới. Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,44% so với tháng trước do thời tiết tiếp tục rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc nên nhu cầu mua sắm quần áo rét, giầy dép tăng. 

 

Nhóm giáo dục tăng 0,33% so với tháng trước do mức học phí công lập các cấp tại thành phố Đà Nẵng tăng trở lại mức trước khi có dịch Covid-19 lần 2. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,32% so với tháng trước do nhu cầu tăng vào dịp cuối năm âm lịch. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24% so với tháng trước do tăng giá dịch vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu, uốn tóc. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08% so với tháng trước do thời tiết rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc nên nhu cầu sử dụng các thiết bị và đồ dùng gia đình phục vụ mùa đông tăng. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08% so với tháng trước chủ yếu do giá máy ảnh, máy quay video và giá cây cảnh tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng.

Ở chiều ngược lại, trong 02 nhóm hàng giảm giá, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm nhiều nhất, giảm 2,31% so với tháng trước chủ yếu ở giá điện sinh hoạt do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng với thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2020. Tiếp theo, nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,1% so với tháng trước do giá các mặt hàng điện thoại di động giảm khi các hãng điện thoại cạnh tranh giảm giá vào dịp cuối năm nhằm kích cầu tiêu dùng.

Không nằm trong rổ tính hàng hóa, Tổng cục Thống kê cho biết, giá vàng bình quân trong nước biến động theo với giá vàng thế giới. Bình quân đến ngày 24/01/2021 giá vàng thế giới ở mức 1.868,62 USD/ounce tăng 0,3% so với tháng trước. Giá vàng tăng do đồng USD suy yếu trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Mỹ. 

Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng cuối năm của người dân tăng cao, bình quân tháng 01/2021 giá vàng tăng 2,17% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 5,45 triệu đồng/chỉ vàng SJC.

Về chỉ số giá đô la Mỹ, Tổng cục Thống kê cho biết, đồng đô la Mỹ suy yếu trên thị trường thế giới sau khi nước Mỹ chuyển giao quyền lực giữa hai thời kỳ Tổng thống. Chính quyền mới có kế hoạch đẩy mạnh chi tiêu để vực dậy nền kinh tế Mỹ trong khi đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến khó lường, số người mắc Covid-19 đang tăng lên mức cao mới. Chỉ số đô la Mỹ đo lường biến động đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tháng 01/2021 ở mức 90,16 điểm, giảm 0,34% so với tháng trước. 

Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu, tỷ giá giữa VND và USD tháng 01/2021 giảm 0,16% so với tháng trước, giá USD bình quân trên thị trường tự do tháng 01/2021 quanh mức 23.178 VND/USD.

Theo VnMedia

(Visited 11 times, 1 visits today)